A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Kết quả thực hiện công tác quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ năm 2018 và phương hướng nhiệm vụ năm 2019.

Tổng cục Đường bộ Việt Nam vừa có văn bản báo cáo Bộ Giao thông vận tải và Quỹ Bảo trì đường bộ Trung ương về kết quả thực hiện công tác quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ năm 2018 và kế hoạch trọng tâm năm 2019.

 

Ảnh minh họa: Internet.

Theo nội dung Báo cáo, công tác quản lý bảo trì đường bộ năm 2018 đã đạt những kết quả đáng ghi nhận trên các mặt công tác như: công tác XD VBQPPL, các Tiêu chuẩn mới ban hành, công tác bảo trì, công tác theo dõi và quản lý hệ thống cầu đường, công tác phát triển GTNT, công tác quản lý, bảo trì đường BOT. Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm khoa học công nghệ đã được áp dụng cho lĩnh vực bảo trì.

Cụ thể, về công tác XD VBQPPL: Đã hoàn thành việc xây dựng và trình các VBQPPL. Các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành đã có các quy định để điều chỉnh các vấn đề bất cập, phát sinh mà trước đó chưa có, hoặc có nhưng chưa đầy đủ, chưa phù hợp với tình hình mới. Đặc biệt đã bổ sung nhiều quy định mới mà trước đây chưa có quy định, nhiều quy định mang tính giảm thủ tục hành chính. Nhờ đó đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn, vướng mắc cho công tác quản lý nhà nước, quản lý thực hiện của các cơ quan, tổ chức cá nhân làm công tác quản lý, bảo trì đường bộ từ Trung ương đến cơ sở, thuộc mọi thành phần Nhà nước, Doanh nghiệp PPP, nhà thầu vv...

Về các Tiêu chuẩn mới ban hành: Những Tiêu chuẩn mới ban hành tạo điều kiện hoàn thành hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật về quản lý, bảo trì đường bộ; bổ sung các yêu cầu cụ thể về mặt kỹ thuật làm căn cứ cho việc thiết kế, sản xuất cấu kiệu, thi công và nghiệm thu các công trình ATGT trên đường cao tốc, đo vệt bánh xe hằn lún, gia cố chống sụt trượt bảo vệ an toàn giao thông bằng lưới thép.

Về công tác bảo trì: Hệ thống quốc lộ đã được bảo trì đúng quy định, phù hợp với kế hoạch bảo trì và số vốn nhà nước dành cho công tác bảo trì. Công tác triển khai kế hoạch bảo trì tại 61 đầu mối (4 Cục QLDB, 4 Ban QLDA thuộc Tổng cục và 53 Sở GTVT nhận quản lý QL) được kịp thời, nhanh chóng, nhìn chung đáp ứng tiến độ đề ra.

Về đấu thầu: Toàn bộ các đơn vị lần đầu tiên đã triển khai đấu thầu qua mạng, với trên 50% tổng số gói thầu sửa chữa và trên 40% tổng chi phí đã thực hiện đấu thầu qua mạng, vượt chỉ tiêu Bộ GTVT quy định (Năm 2018, Bộ yêu cầu đấu thầu 30% số gói thầu quy mô nhỏ, nhưng Tổng cục đã chỉ đạo các đơn vị đấu thầu > 50 tổng số gói thầu kể cả quy mô nhỏ và không quy mô nhỏ). Tổng số tiền tiết kiệm đạt > 204 tỷ đồng, cao hơn các năm trước.

Về khối lượng thực hiện: Đã duy tu bảo dưỡng thường xuyên trên 21400 km quốc lộ, các tuyến đường cao tốc với trên 6200 cầu, 12 bến phà, các hầm tràn, cầu phao đảm bảo giao thông an toàn, thông suốt. Thông qua công tác duy tu sửa chữa đã kịp thời phát hiện xử lý các hư hỏng gây mất ATGT; Khối lượng sửa chữa đã được đánh giá kê khai cụ thể, trong đó sửa chữa tập trung được trên 6,35 triệu m2 (tương đương > 908 km đường cấp III); 299 cầu đã hoàn thành việc sửa chữa (hiện nay còn nhiều cầu đang SC); trên 320 điểm đen mất ATGT đã được xóa bỏ; hàng trăm km sơn kẻ đường, hộ lan, rãnh dọc; trên 33.000 md cống thoát nước ngang đã được sửa chữa; hàng chục nghìn biển báo đã được sửa chữa và rất nhiều khối lượng khác.

Tiến độ giải ngân đạt khá, mặc dù ngoài vốn duy tu bảo dưỡng giao từ đầu năm, vốn sửa chữa chỉ giao 2 đợt vào cuối tháng 5/2018 và bổ sung tháng 10/2018. Hiện nay chưa kịp thống kê đầy đủ, nhưng đến giữa tháng 12/2018 đã giải ngân được 89% vốn giao. Dự kiến hết 31/01/2018 sẽ đạt xấp xỉ 100%.

Công tác khắc phục bão lũ được triển khai tích cực với phương châm 4 tại chỗ để phát huy lực lượng tại chỗ, kết hợp các đơn vị của trung ương với địa phương. Nhờ đó các vị trí hư hỏng đã kịp thời được sửa chữa khôi phục.

Về công tác theo dõi và quản lý hệ thống cầu đường: Công tác quản lý cầu đường có nhiều tiến bộ. Hệ thống phần mềm quản lý cầu (VBMS) được sử dụng và cập nhật thường xuyên; hệ thống phần mềm thu thập cơ sở dữ liệu đường bộ (Dự án VRAMP) đang được thực hiện; Nhiều đơn vị đã và đang mở rộng việc áp dụng phần mềm quản lý tuần đường Gov.One, phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu đường bộ tự phát triển tại Cục QLĐB II.

Đặc biệt đã thu thập và phân tích đánh giá cơ sở dữ liệu quốc lộ cho thấy được tỷ lệ theo chiều dài quốc lộ/diện tích và dân số của 6 vùng kinh tế.

Công tác phát triển GTNT: Công tác phát triển GTNT đã có chuyển biến hơn các năm trước. Kết quả đánh giá về GTNT đã được trình lên Ban Kinh tế Trung ương nhân dịp Tổng kết 10 năm (2008-2017) thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy về Nông nghiệp, Nông dân và Nông thông của Ban chấp hành Trung ương Khóa X. Qua đó cho thấy những kết quả, hạn chế, thuận lợi và khó khăn trong phát triển GTNT và kiến nghị cho thời gian tới. Đặc biệt trong báo cáo này đã cho thấy hệ thống đường bộ cả nước hiện nay đạt trên 0,6 triệu km dài. Nếu so với nước Nhật có 350 km2 và có khoảng 1,1 triệu km đường bộ, thì tỷ lệ đường bộ ở nước ta bằng khoảng 0,6 lần của Nhật Bản. Tuy nhiên nền kinh tế của Việt Nam bằng khoảng 1/16 lần. Số liệu trên cho thấy năng lực vận tải trên đường bộ của VN còn thấp so với Nhật Bản.

Nhiều sản phẩm khoa học công nghệ đã được áp dụng cho lĩnh vực bảo trì: Sơ bộ có thể cho thấy gần 30 dự án cào bóc tái chế mặt đường bằng các công nghệ của Đức, Nhật Bản đã được áp dụng; 5 dự án bảo trì định kỳ lớp mặt (công nghệ Microsufacing của Ấn Độ, Tây Ban Nha) đã được Bộ GTVT cho phép triển khai bước đầu đánh giá là thành công và nhiều loại công nghệ khác đã được áp dụng.

Công tác quản lý, bảo trì đường BOT được quản lý ngày càng chặt chẽ. Bên cạnh việc xây dựng trình Bộ GTVT các văn bản QPPL, Tổng cục ĐBVN đã có các văn bản phổ biến kiến thức pháp luật, hướng dẫn chung cho tất cả các nhà đầu tư BOT thực hiện bảo trì, lựa chọn nhà thầu thực hiện quản lý bảo trì, công tác lập và quản lý chi phí về bảo trì, công tác xác định chi phí vận hành, khai thác và bảo trì các công trình hạ tầng kỹ thuật (chiếu sáng, cây xanh trong công trình BOT). Kiểm tra và xử lý nghiêm đơn vị vi phạm, dừng thu phí 1 trường hợp trong 8 ngày để đơn vị hoàn thành SC mới cho thu phí tiếp.

Phương hướng nhiệm vụ công tác trọng tâm năm 2019

Báo cáo nêu rõ các nhiệm vụ cơ bản đối với phương hướng nhiệm vụ công tác trọng tâm năm 2019 như: hoàn thành công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; phối hợp các cơ quan để giải trình các dự thảo Nghị định, quyết định liên quan đến lĩnh vực đường bộ do Bộ GTVT trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Phối hợp các cơ quan để giải trình các dự thảo Thông tư liên quan đến lĩnh vực đường bộ.

Hoàn thành việc tổ chức lập kế hoạch bảo trì 2019 trình Bộ GTVT; chuẩn bị xây dựng kế hoạch bảo trì 2020; Tập trung hoàn thiện Đề án về vốn bảo trì đến năm 2030; Xây dựng kế hoạch chi cho công tác bảo trì để trình Quỹ Bảo trì phân bổ để thực hiện đấu thầu và thi công, bảo trì;

Tổ chức khảo sát, lập dự án, lập thiết kế các dự án bảo trì bảo đảm tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật và định mức chi phí của Nhà nước;

Tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng, trong đó đấu thầu qua mạng là chủ yếu đối với toàn bộ các dự án SCĐK trong kế hoạch bảo trì (trừ SC đột xuất cần thời gian gấp);

Triển khai công tác bảo dưỡng thường xuyên theo Hợp đồng; triển khai thi công sửa chữa các công trình đường bộ và các hoạt động kiểm định cầu đường, quan trắc cầu hầm theo kế hoạch giao bảo đảm tiến độ; Tăng cường giám sát kiểm tra quản lý chặt chẽ về Khối lượng, Chất lượng;

Thực hiện các giải pháp để bảo đảm trật tư ATGT bao gồm các công việc chính: Tổ chức giao thông, phân luồng cho thi công, vận hành cầu phà đảm bảo an toàn thông suốt; Tăng cường bổ sung cọc tiêu, biển báo, sơn kẻ mặt đường và cảnh báo giao thông; Xóa các điểm đen theo kế hoạch giao hoặc các vị trí cần SC đột xuất; Tăng cường kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm xe quá tải, vi phạm trật tự ATGT, lấn chiếm sử dụng trái phép lòng, lề đường và Hành lang an toàn..; Thường xuyên tiến hành tuần đường, tuần kiểm trên hệ thống cầu đường để phát hiện hư hỏng và các bất cập để có biện pháp xử lý; Tổ chức đánh giá sự làm việc của toàn bộ hệ thống cầu, hầm, phà, cầu phao, ngầm tràn trước mùa lũ để có biện pháp sửa chữa khắc phục; kiểm tra trong và sau mùa lũ để xử lý nếu cần thiết; Lựa chọn công tác bảo dưỡng thường xuyện và quản lý đường bộ là khâu sẽ được tăng cường kiểm tra chất lượng, đổi mới công nghệ bảo dưỡng kiểu mẫu để thực hiện năm 2019.

Tăng cường quản lý, giám sát các nhà đầu tư BOT theo quy định của Pháp luật (Nghị định 63/2018/NĐ-CP; Nghị định 46/2015/NĐ-CP; Thông tư 37/2018/TT-BGTVT, Thông tư 49/2016; Thông tư 50/2018/TT-BGTVT và các quy định của Nhà nước) và quy định tại Hợp đồng dự án về các nội dung : Công tác quản lý, bảo trì và chất lượng đường bộ; Công tác thu phí và các hoạt động khác trong phạm vi Hợp đồng.

Hướng dẫn các địa phương quản lý và bảo trì đường giao thông địa phương, giao thông nông thôn. Có các văn bản đôn đốc địa phương triển khai các đợt cao điểm về bảo đảm trật tự ATGT trong các dịp Lễ, Tết vv... và trong mùa mưa lũ.

Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ khác như xây dựng đề tài, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình, định mức liên quan đến quản lý bảo trì đường bộ;  Triển khai các nhiệm vụ ứng dụng khoa học – công nghệ; triển khai các hoạt động hợp tác với các tổ chức, chuyên gia nước ngoài để đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ vào quản lý bảo trì và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất khác.

Nguồn: Tổng cục ĐBVN.


Bài viết liên quan
Văn bản mới ban hành
Liên kết website
Thông kê truy cập
Lượt truy cập hiện tại : 4
Hôm nay : 57
Hôm qua : 1.614
Tháng 01 : 28.052
Năm 2019 : 28.052