Tổng cục Đường bộ Việt Nam 10 năm trưởng thành và phát triển

Cách đây 10 năm, ngày 26 tháng 3 năm 2010 Tổng cục Đường bộ Việt Nam đi vào hoạt động trên cơ sở Cục Đường bộ Việt Nam nhằm tăng cường trách nhiệm vai trò và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đường bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển giao thông vận tải trong giai đoạn mới của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tổng cục Đường bộ Việt Nam ra đời trước sự đòi hỏi của thực tế phải phát triển giao thông vận tải đường bộ hợp lý, đồng bộ và bền vững, trong cả quá trình hoạt động, Tổng cục đã đạt được rất nhiều thành tựu trong tất  cả các lĩnh vực.

Có thể nói, 10 năm qua, các thế hệ cán bộ, công chức viên chức người lao động của Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã đoàn kết vượt qua khó khăn thách thức để hoàn thành tốt nhiệm vụ, qua đó khẳng định được vai trò quan trọng trong tham mưu quản lý nhà nước về lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ. 
 
Từng bước hoàn thiệt thể chế pháp luật
 
Trước năm 2010, hệ thống văn bản pháp luật về giao thông đường bộ còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa theo kịp sự phát triển của phương tiện vận tải và nhu cầu trong quản lý, bảo trì đường bộ.
 
Thời gian qua, với vai trò là cơ quan chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho quản lý nhà nước chuyên ngành đường bộ, Tổng cục đã tham mưu cho Chính phủ và Bộ Giao thông Vận tải tải ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL). Đến nay, hệ thống các văn bản QPPL đã tương đối đầy đủ, bao quát hết các lĩnh vực giao thông đường bộ vào trong công tác quản lý.
 
Hầu hết các QPPL đều mang những điểm mới và đã đi vào cuộc sống, góp phần phát triển các lĩnh vực quản lý giao thông đường bộ, được xã hội ghi nhận và đánh giá cao.  
 
Xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển đường bộ Việt Nam hiện đại, đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội
 
Giai đoạn 2010-2020, Tổng cục đã xây dựng nhiều đề án chiến lược, quy hoạch phát triển GTVT Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trong đó, đặc biệt là quy hoạch đầu tư xây hệ thống kết cấu hạ tầng đường bộ Việt Nam. Thực hiện quy hoạch, nhiều công trình hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới đã hoàn thành, đưa vào sử dụng. Cụ thể:
 

Ðường giao thông ở xã  Hải Quang, huyện Hải Hậu, Nam Định.
 
 

Chiến lược phát triển giao thông nông thôn đã định hướng mục tiêu phát triển về vận tải và kết cấu hạ tầng đường bộ, đường sông khu vực nông thôn bao gồm hệ thống đường huyện, đường xã, đường thôn, đường giao thông nội đồng, góp phần thực hiện thắng lợi Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới của Chính phủ.
 
Để đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển hệ thống đường cao tốc phù hợp với định hướng của Chiến lược phát triển KTXH 2011-2020, Tổng cục đã triển khai công tác lập điều chỉnh Quy hoạch mạng đường bộ cao tốc đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 01/3/2016. 
 
Với việc thực hiện Quy hoạch, hệ thống đường bộ cao tốc đã hình thành gồm 18 tuyến, đoạn tuyến với chiều dài 1.025km; đưa 03 tuyến vào khai thác với chiều dài khoảng 186km (La Sơn - Túy Loan; Bến Lức - Long Thành, Trung Lương - Mỹ Thuận).
 

Tuyến cao tốc La Sơn - Túy Loan đoạn qua huyện Hòa Vang, Tp. Đà Nẵng
 
 

Để bảo đảm tính đồng bộ trong công tác quy hoạch, cùng với việc điều chỉnh quy hoạch phát triển GTVT đường bộ và đường cao tốc, Tổng cục đã tham mưu, trình Bộ GTVT trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và điều chỉnh Quy hoạch phát triển GTVT các vùng kinh tế trọng điểm: Bắc bộ, miền Trung, phía Nam, đồng bằng sông Cửu Long.
 

Dự án đường ven biển Nghi Sơn - Cửa Lò với tổng mức đầu tư dự kiến là 4.850 tỷ đồng, phân kỳ đầu tư thành 2 giai đoạn, thời gian thực hiện từ 2017 - 2022.
 
 

Tổng cục cũng đã triển khai xây dựng, báo cáo Bộ GTVT trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chi tiết đường bộ ven biển Việt Nam.
Theo Quy hoạch, hệ thống đường bộ ven biển Việt Nam được hình thành trên cơ sở hệ thống đường quốc lộ do Bộ GTVT quản lý và đường địa phương do các địa phương quản lý; tuyến đường bộ ven biển bắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Mũi Ngọc thuộc địa phận xã Bình Ngọc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tới cửa khẩu Hà Tiên, thuộc địa phận thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang với chiều dài khoảng 3.041 km.
 
Trên cơ sở Quy hoạch, Bộ GTVT và các địa phương đã và đang triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng như: Đường hành lang ven biển phía Nam, đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh, đường ven biển Bình Tiên - Cà Ná, đường ven biển đoạn nối Thị xã Sầm Sơn với Khu kinh tế Nghi Sơn…; chuẩn bị các thủ tục để đầu tư xây dựng các dự án đường ven biển Hải Phòng -Thái Bình,  đường ven biển Thái Bình, đường ven biển Nam Định… 
 

 
Thực hiện quyết liệt nhiều giải pháp, góp phần giảm tai nạn giao thông hàng năm và giảm sâu nhất sau 20 năm
 
Một trong những thành tựu nổi bật của Tổng cục đó là thực hiện quyết liệt nhiều giải pháp, góp phần giảm sâu tai nạn giao thông hàng năm trên cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương. Đặc biệt, năm 2019 - là năm thứ ba liên tiếp số người thương vong do tai nạn giao thông giảm và là năm giảm sâu nhất trong vòng 20 năm qua.
 

Cải tiến hộ lan tôn sóng.
 
 

Có được kết quả nổi bật trên là do nhiều giải pháp thực hiện phối hợp, một tron g những công tác được đánh giá cao là xử lý các “điểm đen” về tai nạn giao thông trong toàn quốc. Tổng cục đã đầu tư công sức nghiên cứu, triển khai xây dựng nhiều đường cứu nạn thích hợp ở những cung đường nguy hiểm, nơi từng xảy ra nhiều tai nạn thảm khốc; triển khai nhiều biện pháp cảnh báo an toàn tác động trực tiếp vào kỹ năng cũng như tâm lý người điểu khiển phương tiện giao thông. Điển hình là xây dựng thêm nhiều đường cứu nạn có độ dốc và độ nhám cao ở khu vực đèo Lò Xo - nơi nổi tiếng về các vụ tai nạn thảm khốc trước đây, lắp đặt hệ thống cảnh báo, phòng hộ, ngăn chăn tai nạn ở Dốc Cun, đèo Thung Khe trên QL6; tại lý trình Km100 QL43B, QL12A (cửa khẩu Cha Lo)...Thực tế cho thấy những đường cứu nạn này đã “cứu” được khá nhiều xe tải trọng lớn, xe contener thoát khỏi tai nạn thảm khốc. Ở những vị trí này hai năm gần đây gần như không xảy ra các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng nào xảy ra.
 

Sáng kiến tận dụng lốp xe cũ làm bức tường ngăn chặn tai nạn.
 

 
Từ năm 2010 đến nay, trên quốc lộ, Tổng cục đã xử lý 1.216 điểm đen, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông; sơn kẻ 5.630.000 m2 vạch sơn đường; thay thế, điều chỉnh 46.285 cụm biển báo; sửa chữa bổ sung 910 km hộ lan phòng hộ; xây dựng 54 đường cứu nạn, hốc cứu nạn góp phần kéo giảm tai nạn giao thông trên cả nước, được người dân đánh giá cao.
 

 
 
 

Đột phá trong quản lý bảo trì đường bộ
 

Tổ chức lại thiết chế quản lý bảo trì, tách bạch quản lý Nhà nước với cung cấp dịch vụ công. Đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp làm công tác bảo trì và tổ chức đấu thầu rộng rãi, kể cả qua mạng; Phát triển vật liệu mới trong sửa chữa đường v.v. Đó là những bước đột phá trong quản lý bảo trì đường bộ, góp phần nâng cao chất lượng hệ thống đường bộ, tiến kiệm cho ngân sách Nhà nước.
 
Nhờ những giải pháp đột phá của Tổng cục, từ Quý I/2015 đã đấu thầu thành công các gói duy tu, bảo dưỡng tất cả các tuyến quốc lộ, hợp đồng thực hiện từ 2015 – 2017, đã tiết kiệm được 97 tỷ đồng cho ngân sách nhà nước. Từ Quý 1 năm 2018, Tổng cục tiếp tục đấu thầu rộng rãi 100% tuyến quốc lộ để thực hiện hợp đồng duy tu từ 2018 đến 2020, tiết kiệm được 91,8 tỷ cho ngân sách.
 
Đến nay, toàn bộ công tác bảo trì quốc lộ đã được tổ chức đấu thầu rộng rãi (trừ sửa chữa đột xuất do bão lũ và trường hợp đặc biệt được chỉ định theo Luật Đầu tư). Đặc biệt, năm 2018 Tổng cục đã tổ chức đấu thầu qua mạng 50% số gói thầu (trong khi Bộ GTVT chỉ quy định 30%), từ 2019 hầu hết các gói thầu được đấu thầu qua mạng.
 
Ngoài ra, Tổng cục đường bộ đã đẩy mạnh áp dụng công  nghệ mới, nâng cao tỷ lệ cơ  giới trong bảo trì đường bộ. Do vậy, trong thời gian qua, việc vá láng thủ công trong sửa chữa đường bộ đã được thay thế bằng thiết bị cơ giới hiện đại.. Một số khu vực đã ứng dụng công nghệ vá mặt đường bằng thiết bị tự hành; phân luồng giao thông ban đêm bằng đèn chớp; sử dụng thiết bị tự hành có cần vươn (robot) để đưa người, camera kiểm tra, ghi hình các bộ phận bên dưới cầu, đẩy mạnh áp dụng cào bóc tái chế móng, mặt đường để giảm lao động thủ công; áp dụng lớp phủ Microsurfacing trên mặt đường thay cho việc trám vá vết nứt.
 

 
Đổi mới công tác quản lý phương tiện và người lái
 

Thành tựu nổi bật trong quản lý phương tiện và người lái đó quy hoạch sắp xếp lại các cơ sở đào tạo lái xe theo hướng xã hội hóa, phân cấp mạnh cho địa phương;đổi mới chương trình đào tạo, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất hiện đại cho việc trong đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe, đảm bảo tính công khai, minh bạch, chống các biểu hiện tiêu cực.
  
Đây là nội dung đổi mới vượt bậc so với trước. Tổng cục đã xây dựng phần mềm lưu trữ dữ liệu liên thông với các cơ sở đào tạo và các Sở giao thông vận tải giúp tra cứu thông tin nhanh, dễ dàng và chính xác. 
 

Sân tập lái của một cơ sở đào tạo lái xe. 

 

Chương trình, giáo trình đào tạo lái xe được nghiên cứu, tiếp thu từ chương trình, giáo trình của nước ngoài. Giáo trình đào tạo lái xe được biên soạn lại, cập nhật công nghệ mới về phương tiện, hệ thống báo hiệu đường bộ, bổ sung các nội dung về đạo đức người lái xe và văn hóa giao thông, bổ sung kỹ năng xử lý các tình huống trên đường giao nhau, đường bộ với đường sắt, kỹ năng lái xe trên đường băng tuyết, đường cao tốc, đường đồi núi, đường trơn trượt… Hiện nay chương trình và thời gian đào tạo lái xe của Việt Nam tương đương với Trung Quốc Thái Lan và dài hơn Hàn quốc, Nhật bản và Singapore (theo đánh giá của Ngân hàng Thế Giới).
 
Trước đây, các cơ sở đào tạo lái xe ô tô thuộc hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Chủ trương xã hội hóa đã cho phép các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực đầu tư xây dựng cơ sở đào tạo lái xe theo tiêu chuẩn quy định. Thực hiện tốt chủ trương này, hệ thống cơ sở đào tạo lái xe đã tăng cả về số lượng và chất lượng đảm bảo tiêu chuẩn, đáp ứng nhu cầu học lái xe của người dân. Đến nay cả nước đã có 333 cơ sở đào tạo lái xe ô tô, 463 cơ sở đào tạo lái xe mô tô và máy kéo thuộc các bộ, ngành và địa phương, được phân bố hợp lý. Hệ thống phòng học, trang thiết bị giảng dạy, đội ngũ giáo viên, xe tập lái, sân tập lái của cơ sở đào tạo được đầu tư, tăng cường đáp ứng yêu cầu giảng dạy.
 
 

Các trung tâm đào tạo lái xe được đầu tư cơ sở vật chất hiện đại.

 
Dưới sự hướng dẫn, kiểm tra thực hiện của Tổng cục, các Sở GTVT đã quản lý chặt chẽ các cơ sở đào tạo, không tuyển sinh qua trung gian, hợp đồng đào tạo chặt chẽ thể hiện rõ nội dung chương trình đào tạo, thời gian hoàn thành khóa học, mức học phí, phương thức thanh toán, hình thức đào tạo, loại xe tập lái, chất lượng. Các cơ sở đào tạo trực tiếp thu học phí của học viên, bố trí đủ giáo viên, lập giáo án, ghi chép đầy đủ nội dung trong sổ giáo vụ, chú trọng dạy môn Luật giao thông đường bộ và thực hành lái xe; có quy chế cụ thể đối với học viên, giáo viên khi học thực hành lái xe, dã ngoại đường trường để chống tiêu cực…
 
Công tác sát hạch lái xe được chú trọng siết chặt quy trình quản lý, tăng cường cơ sở vật chất, hiện đại và công khai hóa để giám sát chặt chẽ quá trình sát hạch lái xe. Trước đây, số lượng các trung tâm sát hạch lái xe rất ít, nhiều địa phương không có trung tâm sát hạch nên học viên phải sang các địa phương khác sát hạch rất tốn kém, phức tạp. Đến nay cả nước đã có 133 Trung tâm sát hạch lái xe, gồm 45 trung tâm loại một (sát hạch từ hạng A1-mô tô đến hạng F - xe kéo rơmooc) và 88 trung tâm loại hai (sát hạch từ hạng A1-mô tô đến hạng C-xe tải) do các tổ chức, đơn vị thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của trung tâm sát hạch được xây dựng theo quy chuẩn, áp dụng công nghệ hiện đại, tự động chấm điểm, công khai quá trình và kết quả sát hạch của từng thí sinh. 
 

Sử dụng thiết bị chấm điểm tự động sát hạch lái xe
 

 

Theo quy chuẩn, trung tâm sát hạch lái xe phải có đủ điều kiện về cơ sở vật chất như phòng sát hạch lý thuyết, phòng điều hành thiết bị sát hạch thực hành, sân sát hạch, xe sát hạch và các hạng mục công trình cơ bản khác, thiết bị chấm điểm tự động, hệ thống loa, màn hình tại phòng chờ để công khai quá trình và kết quả sát hạch qua từng khâu. Quy trình sát hạch không còn bước sát hạch thủ công như trước. Việc sát hạch lái xe ô tô sử dụng thiết bị chấm điểm tự động đã triệt tiêu sự can thiệp của con người, hạn chế được tiêu cực. Từ 10/2019, các trung tâm đã hoàn thành việc lắp đặt camera giám sát phòng sát hạch lý thuyết, sân sát hạch lái xe trong hình và kết nối trực tuyến, truyền dữ liệu hình ảnh về Tổng cục ĐBVN.
 
Với việc đổi mới, áp dụng công nghệ tự động, tổ chức giám sát các kỳ sát hạch và công khai minh bạch, chất lượng sát hạch đã nâng cao rõ rệt, các tiêu cực đã được hạn chế tới mức thấp được dư luận rất đồng tình, đánh giá cao.
 
Song song với việc siết chặt quy trình quản lý thì năm 2012, Tổng cục triển khai dự án đổi mới quản lý giấy phép lái xe với nội dung quan trọng là xây dựng hệ cơ sở dữ liệu giấy phép lái xe thống nhất trong toàn quốc và đổi mới giấy phép lái xe sang vật liệu nhựa (PET). Đây là bước tiến quan trọng, khắc phục được hạn chế trước đây là GPLX cấp ở đâu thì phải đổi ở đó, nay có thể đổi ở bất kỳ đâu trong toàn quốc. Đồng thời làm nền tảng để triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với thủ tục đổi giấy phép lái xe từ quý IV/2015. 
 
Từ năm 2013, Tổng cục đã tham mưu gia nhập Công ước quốc tế 1968 về Giao thông đường bộ (Công ước Viên), theo đó 85 nước trong đó có Việt Nam công nhận GPLX của nhau. Năm 2015, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 29/2015/TT-BGTVT quy định về cấp, sử dụng giấy phép lái xe quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam sinh sống, lao động và học tập tại các nước tham gia Công ước; đã áp dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trong việc cấp giấy phép lái xe quốc tế từ tháng 6 năm 2016. Năm 2017, tổ chức đường bộ Vicroad của Australia đã khảo sát và đánh giá nội dung, chương trình, giáo trình, công tác quản lý đào tạo, sát hạch, cấp, quản lý giấy phép lái xe tại một số tỉnh phía Bắc và đánh giá công tác quản lý của Việt Nam là chặt chẽ, hiện đại so với Australia và một số nước phát triển.    
 
Tổ chức lại hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải
 
 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về giao thông vận tải nói chung và vận tải đường bộ nói riêng từ năm 2010 trở về trước còn tồn tại một đặc điểm khá rõ là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đầy đủ. Phương pháp quản lý vẫn mang nặng tính chất thủ công, nhất là việc giám sát phương tiện và người điều khiển phương tiện “chạy” trên đường. 10 năm qua, Tổng cục đã triển khai nhiều giải pháp lập lại trật tự trong vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí, bảo đảm trật tự an toàn giao thông.
 
Tổng cục đã xây dựng và ứng dụng phần mềm quản lý hoạt động kinh doanh vận tải, phối hợp xây dựng và đưa vào áp dụng chính thức phần mềm giải quyết các thủ tục hành chính đối với 65 thủ tục hành chính lĩnh vực vận tải quốc tế trên cổng thông tin một cửa quốc gia; triển khai áp dụng phần mềm dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 đối với các thủ tục về cấp giấy phép kinh doanh vận tải, cấp đổi phù hiệu, biển hiệu. Tổ chức rà soát định kỳ 6 tháng/lần điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chi tiết tuyến vận tải hành khách cố định liên tỉnh đường bộ toàn quốc đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với số tuyến hàng năm tăng cao. Năm 2015, số lượng tuyến là 4.635 tuyến; đến năm 2019 là 10.588 tuyến, tăng hơn gấp 2 lần so với năm 2015.
 
Thực hiện việc rà soát, cắt giảm điều kiện kinh doanh vận tải nhằm tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển. Kết quả rà soát, sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 86. Chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác quản lý hoạt động kinh doanh vận tải trên địa bàn, đặc biệt là công tác khai thác dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình; chỉ đạo việc kiểm tra, chấn chỉnh, xử lý vi phạm xe hoạt động trá hình tuyến cố định, “xe dù, bến cóc”. Chỉ đạo các địa phương tổ chức vận tải hành khách đảm bảo trật tự ATGT, phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, đặc biệt trong dịp Lễ, Tết. Hướng dẫn, tháo gỡ vướng mắc cho Sở GTVT và các doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh vận tải...
 

Trạm dừng nghỉ V52 trên cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.
 
 

Đối với vận tải quốc tế: Đã hình thành hệ thống các văn bản QPPL gồm: 1 Hiệp định vận tải đa phương; 5 Nghị định thư; 5 Bản ghi nhớ về vận tải GMS, vận tải cố định Việt Nam - Lào - Thái Lan và Tăng hạn ngạch phương tiện thương mại giữa Việt Nam - Campuchia; 1 Bản thu hoạch sớm về vận tải GMS, 1 Thỏa thuận về Giấy phép vận tải Việt - Trung, 9 Thông tư hướng dẫn thực hiện; 2 Sổ tay hướng dẫn vận tải đường bộ giữa VN với Lào và Trung Quốc. Tổng cục tổ chức các cuộc hội đàm thường niên giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào, Campuchia về quản lý hoạt động vận tải song phương; tham gia các cuộc hội đàm thực hiện Hiệp định GMS, Hiệp định Asean và các Hiệp định đa phương về vận tải đường bộ.
 
Đã kết nối vận tải giữa Việt Nam với các nước: Với Lào: có 55 tuyến vận tải hành khách cố định liên vận với 272 xe hoạt động/ngày; xe vận tải hàng hóa, hợp đồng, du lich, phi thương mại không giới hạn số lượng; Với Campuchia: Hạn ngạch phương tiện được cấp giấy phép liên vận là 500 phương tiện; Với Trung Quốc: Đối với các tuyến khu vực biên giới giữa hai nước: không quy định hạn ngạch, các tuyến vào sâu trong lãnh thổ của nhau là 500 phương tiện; 11 tuyến vận tải khu vực biên giới giữa hai nước và 09 tuyến vào sâu trong lãnh thổ của hai nước.
 


Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý bến xe. Trong đó, nổi bật là  đưa vào sử dụng phần mềm quản lý bến xe khách Toàn quốc. Năm 2015, Tổng cục đã chính thức đưa vào khai thác sử dụng hệ thống xử lý dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình (GSHT) cho 100% phương tiện, thực hiện đến từng xe, từng đơn vị, từng tỉnh, từng tuyến, tất cả các loại hình hoạt động và quá trình khai thác. Điều này cho phép tất cả các thông số cần thiết đều được truyền trực tiếp về Tổng cục, mọi diễn biến tình hình trên đường Tổng cục đều có thể nắm bắt và xử lý được ngay không cần chờ báo cáo như trước. 
 
Việc xây dựng và đưa vào khai thác Hệ thống xử lý, khai thác dữ liệu từ thiết bị GSHT góp phần quan trọng trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ, giảm thiểu tai nạn giao thông. Quan trọng hơn là cơ quan quản lý nhà nước có thêm công cụ hữu hiệu để quản lý, xử lý vi phạm đối với đơn vị vận tải.
 
Kể từ khi đưa vào sử dụng và khai thác, hệ thống đã góp phần quan trọng trong công tác giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vận tải nhằm đảm bảo an toàn giao thông, tỷ lệ vi phạm tốc độ tính bình quân trên 1.000 km giảm mạnh (năm 2015 tỷ lệ này là 11,5 lần/1000 km, năm 2019 tỷ lệ này giảm còn 0,189 lần/1000 km), mặc dù số lượng phương tiện hiện nay tăng gấp 5 lần so với năm 2015. 
 
Ngoài ra, Tổng cục còn xây dựng và đưa vào sử dụng phần mềm quản lý hoạt động kinh doanh vận tải Toàn quốc: Phần mềm quản lý hoạt động bến xe khách toàn quốc để quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh của bến xe khách và hoạt động của tuyến cố định ngay từ đầu bến; Xây dựng và đưa vào áp dụng phần mềm dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 đối với các thủ tục hành chính vận tải trong nước và quốc tế; Nghiên cứu, xây dựng và đưa vào áp dụng thí điểm Sàn giao dịch vận tải hàng hoá..v.
 
Áp dụng thành công nhiều công nghệ mới, vật liệu mới vào quản lý đường bộ và tăng cường hợp tác quốc tế
 
 Đây là một trong những bước tiến mạnh mẽ của Tổng cục trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực quản lý thu được rất nhiều thành tựu to lớn. Năm 2018 Tổng cục được Bộ GTVT xếp hạng đứng thứ nhất trong toàn ngành về mức độ ứng dụng công nghệ thông tin.
Thành công trong ứng dụng KH-CN vào quản lý đường bộ có vai trò quan trọng trong hợp tác quốc tế sâu rộng và hiệu quả giữa Tổng cục và các đối tác nước ngoài. Hai bên đã nghiên cứu, lựa chọn công nghệ tiên tiến, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Qua đó, cán bộ của Tổng cục đã nhanh chóng làm chủ công nghệ, từng bước chuyển giao áp dụng vào công tác quản lý, bảo trì đường bộ, mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế, xã hội.

Ông Kitamura, Phó trưởng đại Văn phòng JICA tại Việt Nam ký bàn giao cân điện tử cho Tổng cục.
 
 

Hiện nay iệc ứng dụng công nghệ mới được Tổng cục chủ động trong việc lựa chọn trong việc ứng dụng thiết bị, công nghệ mới bằng hình thức chào hàng trên mạng; các hội nghị chuyên đề thường xuyên được tổ chức, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thông tin để chào hàng, giới thiệu các sản phẩm công nghệ mới.

Công nghệ vá ổ gà trong điều kiện mưa.
 
 

Trong 10 năm qua, Tổng cục đã triển khai áp dụng thí điểm nhiều công nghệ mới, vật liệu mới vào bảo trì công trình đường bộ và đã mang lại hiệu quả thiết thực, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong đó, nhiều công nghệ mới, vật liệu mới được áp dụng rộng rãi tiêu biểu như: Công nghệ xây dựng cầu liền khối; công nghệ thi công khe co giãn bằng vật liệu đàn hồi FEBA; công nghệ dán sợi cường độ cao (carbon) để tăng cường khả năng chịu lực của dầm cầu BTDƯL; công nghệ cào bóc tái chế nguội tại chỗ cho dự án sửa chữa mặt đường; công nghệ trám vá nứt mặt đường; bê tông nhựa ấm; ứng dụng bê tông nhựa nguội trong công tác bảo trì mặt đường; công nghệ Microsurfacing trong bảo trì mặt đường v.v.

Sửa chữa khe con giãn.
 
 

Trong lĩnh vực đổi mới công nghệ  thông tin, thời gian qua Tổng cục ĐBVN đã tích cực xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, chỉ đạo điều hành và đã găt hái được nhiều kết quả:
 
Xây dựng Chính phủ điện tử của Tổng cục theo khung kiến trúc Chính phủ điện tử do Bộ GTVT ban hành; xây dựng và vận hành kết nối trục liên thông văn bản quốc gia; thực hiện kế hoạch một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính;
 
Áp dụng công nghệ họp trực tuyến trong Tổng cục gồm 4 đầu cầu: Hà Nội (Cơ quan Tổng cục) – Vinh (Cục QLĐB II) – Đà Nẵng (Cục QLĐB III và Tp Hồ Chí Minh (Cục QLĐB IV) đảm bảo thuận tiện trong điều hành, giảm chi phí;
 
Về hệ thống quản lý mặt đường PMS: Cơ bản hoàn thành việc thu thập dữ liệu tình trạng mặt đường trên 22.000km đường quốc lộ thuộc phạm vi quản lý của các Cục QLĐB và đang thử nghiệm mô đun lập kế hoạch bảo trì mặt đường tại một số tuyến trên địa bàn Cục QLĐB I;
 

Công nghệ lớp phủ vữa.
 
 

Về hệ thống quản lý cầu bao gồm hệ thống VBMS, LBMS đã cập nhật được cơ sở dữ liệu 6.450 cầu trên quốc lộ, khoảng 3.500 cầu trên đường địa phương;
 
Về hệ thống kiểm soát tải trọng xe: Hệ thống thu phí sử dụng dịch vụ đường bộ tự động không dừng; Hệ thống quản lý giám sát, khai thác dữ liệu thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ…
 

Ông Nguyễn Văn Huyện, Tổng cục trưởng trực tiếp kiểm tra xe quá tải.
 

 

Cũng trong 10 năm qua, Tổng cục đã tăng đẩy mạnh hợp tác quốc tế, hoàn thiện các Nghị định  thư để thực hiện các Hiệp định vận tải; Hoàn thiện các quy định về hội nhập vận tải quốc tế liên vận; Xây dựng công bố tiêu chuẩn hệ thống ATGT (biển báo, tín hiệu) và thống kê đường xuyên Á Đảm bảo giao thông thông suốt tại các cửa khẩu và đường biên giới v.v.; Hợp tác ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực giao thông vận tải và môi trường. Trong đó, nổi bật là những thành tựu cơ bản như sau: Hoàn thành thủ tục gia nhập Công ước ViTổng cục Đường bộ Việt Nam 10 năm trưởng thành và phát triểnên 1968 về Giao thông đường bộ, Biển báo & Tín hiệu đường bộ, đã được công nhận có hiệu lực tại Việt Nam từ tháng 8/2014.
 
Thực hiện công tác điều phối chung để tiếp nhận và triển khai thực hiện các dự án ODA và dự án hỗ trợ kỹ thuật cho Tổng cục; Dự án tăng cường năng lực gồm các vấn đề về tổ chức và tài chính, khai thác và bảo trì, quản lý mạng lưới đường bộ cho ngành đường bộ Việt Nam do ADB tài trợ; Dự án tăng cường năng lực do JICA tài trợ về Công tác bảo trì ngành đường bộ.
 
Do những nỗ lực cống hiến không ngừng trong suốt 10 năm, Đảng và Nhà nước đã có nhiều ghi nhận thành tích của  Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cụ thể:
 
- Huân chương Hồ Chí Minh cho Tập thể cán bộ, công nhân viên ngành Đường bộ, năm 2010.
- Huân chương Độc lập hạng Nhất cho Tập thể Khu Quản lý Đường bộ V năm 2010.
- Huân chương Lao động hạng Ba cho Ban quản lý dự án 4, năm 2014.
- Huân chương Lao động hạng Nhất cho Tổng cục Đường bộ Việt Nam, năm 2014.
- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho Tổng cục Đường bộ Việt Nam, năm 2014.

Tác giả: PV
Bài viết liên quan
Liên kết website
Thông kê truy cập
Lượt truy cập hiện tại : 7
Hôm nay : 412
Hôm qua : 793
Tháng 04 : 6.250
Năm 2020 : 98.634